Các vấn đề thường gặp trong chuyện ăn uống của trẻ em và cách xử lý ( phần 1)

I – Những vấn đề về “ăn uống” của trẻ

Trong phần này bạn sẽ biết: Nhu cầu của bé là gì và bao nhiêu? Di truyền và giáo dục có tác dụng gì đến vóc dáng của con bạn?

Con bạn “quá mập” hoặc “quá gầy” và đồ thị thể trọng trên bản kiểm tra sức khỏe dự phòng có tác dụng gì? Về mặt dinh dưỡng, bạn cần hiểu những gì? Con của bạn có biết chính xác nhu cầu của bé không?

Trong cuộc sống, bạn có thực sự biết con bạn cần những gì và cần bao nhiêu không? Trẻ có khả năng bẩm sinh chọn thức ăn và lượng dùng chính xác không? Nếu có, thì làm thế nào để chứng minh điều này?    

Trẻ hầu như luôn có thể tự mình chọn lựa những thức ăn tốt nhất và ăn với lượng chính xác. Nhưng nếu đặt những thức ăn ngọt và béo ngon lành vào mâm, thì chúng ta đều có thể tưởng tượng ra kết quả. Qua nhiều cuộc điều tra có thể khẳng định: trẻ vốn thích ăn ngọt.

Làm sao để trẻ ăn ngon miệngLàm sao để trẻ yêu thích những món ăn bổ dưỡng?

Trẻ thường thích kẹo, chocolate hoặc kem hơn, và không chọn những thức ăn có nhiều dinh dưỡng nhưng không ngọt. Đồ ngọt có thể phá hỏng ý muốn thèm ăn, sự cân bằng giữa nhiệt lượng và thể trọng.

Điều này cũng từng được thí nghiệm trên động vật: Trong tình trạng bình thường, nếu động vật có được thức ăn phù hợp, chúng cũng không ăn quá nhiều hay quá ít và cũng thích ăn ngọt. Trong một thí nghiệm thú vị, những con chuột được đưa đến một “siêu thị    thức ăn” rất phong phú.

Kết quả là chúng không thể tự kiềm chế mình và ăn rất nhiều. So với những đồng loại được nuôi bình thường, thì thể trọng của chúng tăng gần gấp hai.

Sự cung ứng kẹo và chất béo không hạn chế này đã làm cho chúng quên đi nhu cầu của chúng là bao nhiêu. Như vậy ở trẻ nếu không hạn chế thức ăn ngọt và béo sẽ dẫn đến thừa dinh dưỡng và thừa cân. Đây chắc chắn là điều không ai mong đợi. 

Tóm lại:

Khi cung ứng một lượng thức ăn đủ dùng và cho trẻ tự quyền quyết định, sẽ không có tình trạng trẻ ăn quá ít. Ăn vô độ những món ngọt và béo sẽ ảnh hưởng đến việc hấp thu dinh dưỡng, dẫn đến ăn quá nhiều hoặc    kén ăn. Cha mẹ cần phải quyết định dọn những món nào lên bàn.

Thức ăn phải bao gồm nhiều loại có giá trị dinh dưỡng, đồng thời bạn cần hạn chế những món béo và ngọt. Sau đó, con bạn tự quyết định ăn hay không và ăn bao nhiêu. Bé sẽ ăn đủ nhưng không ăn quá nhiều. 

1.  Trẻ có khả năng điều tiết thức ăn theo nhu cầu 

 Trẻ có sự điều tiết thức ăn tốt hơn người lớn. Chỉ cần bú sữa, được cung cấp một lượng dinh dưỡng tốt nhất. Trẻ có quyết định mình bú bao sữa, đói thì bú, no thì dừng, chỉ đơn giản vậy. Người mẹ không cần biết rõ lượng sữa là bao nhiêu.

Trẻ thường thích những món quen thuộc và ăn bao nhiêu là do nhu cầu của cơ thể. Năm 1991, có một điều tra thú vị với trẻ 2 – 5 tuổi. Trẻ được cung cấp mỗi ngày ba bữa ăn chính và ba bữa phụ. Chủng loại thức ăn nhiều và thích hợp, kể cả thức ăn ngọt.

Mỗi trẻ có hai phần ăn và chúng được quyết định muốn ăn bao nhiêu. Kết quả chứng minh bọn trẻ có thể dựa vào nhu cầu của mình một cách chính xác: chúng không ăn quá nhiều. Nhưng, người ta cũng thấy: có khi chúng hầu như không ăn gì, có khi lại ăn rất nhiều.

Như vậy rõ ràng, trong ngày nếu chúng ăn một bữa đặc biệt phong phú, thì những bữa sau chúng sẽ ăn ít đi và ngược lại.

Thói quen ăn uống của béThói quen ăn uống của trẻ thường không có sự đồng nhất.

Điều này khiến người ta công nhận sự điều tiết ăn uống của trẻ là rất tốt. Khi trẻ càng lớn thì ảnh hưởng từ bên ngoài cũng tăng theo.

Cuối cùng, lúc trưởng thành thì nó diễn ra khá phức tạp. Khi chọn thức ăn, có rất nhiều điều ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng như: khẩu vị, văn hóa, thói quen, khả năng tài chính, sức khỏe, thời gian v.v…tiếng nói bên trong thể hiện nhu cầu đã bị những điều này che lấp.

Theo thời gian, đến tuổi trưởng thành, dưới áp lực của cuộc sống, nhiều thói quen tốt có thể dần biến mất, thay vào đó là sự vô độ, mất cân đối.

Ví dụ, khi giao tế, vì lịch sự dù đã ăn rồi chúng ta vẫn ăn hay khi rảnh rỗi hoặc do thói quen. Ngược lại, chưa dùng bữa đôi khi chúng ta vẫn từ chối ăn với các lý do như thức ăn không hợp khẩu vị, mình đã quá mập hay không đủ thời gian. Như vậy chúng ta ăn gì và ăn bao nhiêu thường không còn được điều tiết từ nhu cầu thực tế của bản thân.

Trong khi với bản năng bẩm sinh từ thơ ấu đối với nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, chúng ta được phú cho một khả năng điều phối một cách tự nhiên và hài hòa. Với những thay đổi thường xuyên như thế chúng ta đã làm tê liệt hệ thống dinh dưỡng tự động trong cơ năng sinh học khiến cơ thể phải chịu ảnh hưởng trực tiếp.

Bản năng tồn tại đã đến lúc phải lên tiếng: “Cứu tôi với! Đầy ứ quá rồi” hoặc “Đói quá rồi!”. Hậu quả là thân thể bạn gầy tong teo hoặc quá béo phì. Thể trạng của các bé mập hay gầy có do yếu tố di truyền quyết định hay không? Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm.

2. Di truyền có tác dụng gì? 

 Kiểu cách, thói quen ăn uống, nguồn cung cấp thức ăn – tất cả những điều này chịu ảnh hưởng từ nuôi dưỡng, cha mẹ ruột chỉ tăng thêm ảnh hưởng từ gien di truyền. Kết quả: Thể trọng của trẻ không giống cha mẹ nuôi mà giống cha mẹ ruột. Rõ ràng di truyền có sức ảnh hưởng mạnh hơn nhiều so với những yếu tố khác.

Trong một cuộc điều tra tiến hành với những cặp song sinh được nuôi riêng rẽ, kết quả cũng cho thấy, cho dù môi trường sinh trưởng khác nhau, tình hình tăng trưởng thể trọng của các bé song sinh lại rất giống nhau.

Kết quả một cuộc điều tra khác cho thấy: mỗi ngày cho 12 cặp song sinh ăn thức ăn có chất lượng giống nhau. Cứ 12 cặp thì có 10 cặp thể trọng tăng ở mức ngang nhau nhưng không cặp nào giống cặp nào.

Ví dụ, một cặp chỉ tăng 4kg, cặp khác lại tăng 14kg. Trước đây trong một nghiên cứu về trẻ sinh đôi từ 3 – 17 tuổi, người ta dùng phương pháp đặc thù để kiểm tra lượng mỡ trong cơ thể.

Trẻ song sinh thường có chế độ ăn uống giống nhauTrẻ song sinh thường có khẩu phần ăn và mức độ tăng trưởng giống nhau.

Về điểm này, trẻ có sự khác nhau khá rõ. Kết quả khác nhau này có 80% liên quan đến di truyền, còn lại do ảnh hưởng của môi trường. Một số trẻ ăn rất ít, nhưng thể trọng vẫn ổn định hoặc tăng đôi chút. Có người vận động nhiều và ăn uống bình thường mà vẫn béo ra thì đây chủ yếu là do nhân tố di truyền.

Điều này vẫn tăng như nhau. Vóc dáng cũng chịu ảnh hưởng của di truyền. Bất kể hình thể của con bạn là mảnh mai, gầy gầy, hay bắp thịt phát triển, thân hình tròn trịa, những điều này được quyết định từ khi trẻ sinh ra. Nó sẽ không     phù hợp với “vóc dáng lý tưởng” mà bậc làm cha mẹ mong con mình đạt được.

Cuối cùng bạn cũng khó có thể làm thay đổi hẳn chiều cao trong tương lai của con bạn. Trong bất cứ tình huống nào, bạn cũng không thể thông qua ăn uống để thay đổi hoàn toàn vóc dáng của con đã được nhân tố di truyền quyết định. Tốt nhất bạn hãy chấp nhận nó, như nó vốn phải vậy.

Vóc dáng của trẻ theo mô hình hoàn mỹ là điều rất hiếm. Đối với con bạn, nhận thức được điều này là rất khó. Bạn hãy bắt đầu giúp trẻ ngay từ bây giờ. 

3. Môi trường có những tác dụng nào?

 Đương nhiên môi trường cũng có ảnh hưởng. Cái gì có thể làm trẻ mập lên? Đó chính là: lười vận động, xem tivi nhiều, không ngồi vào bàn ăn theo thời gian cố định; ăn quá nhiều thực phẩm béo và ngọt – đặc biệt là tác dụng đồng thời của những yếu tố trên.

Có điều, một số trẻ cho dù mắc phải những sai lầm đó, nhưng do tác dụng di truyền nên vẫn không mập. Tình huống ngược lại, ta cũng có thể tưởng tượng: một trẻ thường hoạt động, rất ít xem tivi, cùng ăn với mọi người trong thời gian nhất định, được ăn thức ăn chọn lựa kỹ – nhưng vẫn mập hơn so với phần lớn trẻ cùng tuổi.

Thông thường trọng lượng cơ thể quá nặng đối với thiếu nhi và người trưởng thành mới là vấn đề. Còn trong năm đầu từ khi trẻ mới sinh ra, phần lớn cha mẹ thường lo: “Con tôi quá gầy và ăn quá ít!”. Điều gì làm trẻ “quá gầy”?

Dựa vào thực tiễn, các bác sĩ công tác ở khoa nhi trong thời gian dài nêu ra hai tình huống: Tình huống thứ nhất là vấn đề nuôi dưỡng, đó chỉ là ảnh hưởng bên ngoài và không liên quan đến bệnh tật, đa số trẻ bị bệnh là do khẩu vị bị ức chế.

Trẻ đang bị ốmĐối với trẻ đang bị ốm thì ăn uống trở thành một “cực hình”.

Có một số trẻ chỉ cần bị bệnh nhẹ là chẳng muốn ăn gì, đặc biệt là nếu bị viêm họng thì càng không muốn ăn. Trẻ bị bệnh cũng biết cái gì có lợi cho chúng; nếu ăn cơm không có lợi thì chúng không ăn. Trẻ bị suy nhược không phải vì bữa ăn mà do sinh bệnh.

Sau khi sức khỏe hồi phục, thể trọng của trẻ sẽ nhanh chóng trở lại bình thường. Vì thế trong nhiều tình huống không thể nói thể trọng bị hạ thấp của trẻ đang mắc bệnh là “quá gầy”. Đương nhiên trong tình huống đặc biệt, những bệnh nghiêm trọng cũng khiến thể trọng hạ thấp uy hiếp sự sống.

Như vậy, trẻ đã không thể tự mình điều tiết việc hấp thụ thức ăn. Khi cơ thể ở tình trạng xấu nhất thì cần phải nuôi nhân tạo. Thường chỉ có bé gái ở tuổi dậy thì mới mắc chứng biếng ăn, đây cũng là một bệnh có nhiều nguyên nhân.

Lúc này, việc ăn không còn dựa vào nhu cầu bên trong cơ thể mà tùy theo bệnh trạng. Tình huống thứ hai khiến trẻ quá gầy mà không liên quan đến nuôi dưỡng là do thiếu ăn. Trẻ em không được ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng không thể phát triển bình thường.

Chúng bị thiếu chất, vì chỉ ăn cơm gạo. Một phát hiện nhỏ về cung ứng thức ăn cũng rất bổ ích, như lá mơ chua chính là vitamin rất quan trọng đối với sự sống. Thật đáng tiếc, trong tình hình riêng của mỗi gia đình, điều kiện dinh dưỡng không được tốt là do cái nghèo.

Nhưng thường những trẻ khỏe mạnh trong năm đầu tiên sau khi sinh không thể gặp tình huống này. Con bạn có thể kén ăn hoặc ăn qua ít, những nếu bạn cung cấp đủ thức ăn cho trẻ, chúng sẽ không bị thiếu chất dinh dưỡng. Một điều kiện môi trường quan trọng có ảnh hưởng đến khẩu vị của con bạn có thể kén ăn hoặc ăn quá ít, nhưng bạn cung cấp đủ thức ăn cho trẻ, chúng không bị thiếu chất dinh dưỡng.

Một điều kiện môi trường quan trọng có ảnh hưởng đến khẩu vị của con bạn là: sự căng thẳng. Tình trạng căng thẳng có thể do không khí trên bàn ăn không vui, do quan hệ giữa cha mẹ và con cái không tốt, hay là do cha mẹ tạo áp lực trong việc ăn uống. Một số trẻ sẽ có    phản ứng tiêu cực trong việc ăn uống, còn một số khác thì không muốn ăn. 

 Kết luận

 Phải chú ý những điểm dưới đây: Dù con bạn ăn quá nhiều hay quá ít bạn đều không thể cứng nhắc về lượng thức ăn cho trẻ vì bé có nhu cầu nhiệt lượng khác nhau. Vóc dáng hoặc hình thể mập, gầy của trẻ phần lớn là do di truyền quyết định. Bạn không thể thông qua sự nuôi dưỡng mà thay đổi hoàn toàn được.

Lười vận động, thường xem tivi, không ăn theo quy luật và thức ăn không phù hợp – những điều này sẽ làm trẻ tăng cân. Nếu bạn cho con ăn quá ít hoặc con bạn bị bệnh nặng, như vậy có coi trẻ là “ốm yếu”.    

Cho dù trong điều kiện trường tốt nhất, con của bạn cũng thể sẽ gầy hơn hoặc béo hơn so mong muốn của bạn. Có lẽ bạn đã nhận ra những kết quả này thích hợp với quy tắc của chúng tôi. Xin bạn ghi nhớ: dọn cái gì lên bàn ăn là do bạn quyết định.

Ảnh hưởng của bạn tuy có hạn nhưng cung cấp thức ăn không phù hợp sẽ làm trẻ “béo phì”, trong một số trường hợp đặc biệt, trẻ phải cố gắng nhiều mới giảm cân được một ít. Khi nào ăn và ăn thế nào vẫn là trách nhiệm của bạn: ăn vặt khi xem tivi, ăn không theo quy luật, cũng là điều kiện dẫn tới béo phì.

“Trạng thái căng thẳng” cũng là một điều bất lợi. Thông qua việc xây dựng phép tắc ăn uống trong gia đình, vai trò của bạn cũng ảnh hưởng đến việc có biến bàn ăn    thành “đấu trường” hay không? Ăn hay không? Và ăn bao nhiêu? Tốt nhất bạn hãy để con mình tự quyết định.

Trẻ sẽ hấp thu dinh dưỡng thế nào và cần ăn bao nhiêu, điều này là do yếu tố di truyền, mỗi trẻ mỗi khác. Nếu để cho con bạn tự xác định lượng thức ăn, nhu cầu cơ thể sẽ chỉ dẫn trẻ. Sau đó, trẻ sẽ giữ được vóc dáng bẩm sinh, đây có thể không phải là vóc dáng lý tưởng nhưng bạn phải nói với trẻ: “Con như vậy là rất tốt.”

Như vậy bạn đã tăng thêm lòng tự tin cho trẻ. Đồ thị tăng trưởng cho thấy: con bạn quá mập hay quá gầy Bạn có thể quan sát kỹ thể trọng và tình hình tăng trưởng của con bạn. Hãy đưa con đi kiểm tra định kỳ để được theo dõi. Bác sĩ nhi khoa sẽ ghi lại trên đồ thị tăng trưởng chiều cao và thể trọng của cơ thể.

(Còn tiếp)

(… Xem tiếp TẠI ĐÂY)

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on linkedin
Scroll to Top