Bố mẹ nên kiểm tra thị giác cho bé trong từng giai đoạn phát triển!!!

1. Trẻ cần làm những bài kiểm tra thị giác nào?

Thị giác bao gồm 3 bộ phận: Bộ phận thu nhận ánh sáng (quang giác), bộ phận cảm nhận hình thái (hình giác) và bộ phận cảm nhận màu sắc (sắc giác).

Trong đó, quang giác có tác dụng phân biệt độ sáng tối của ánh sáng, hình giác phân biệt hình thái và trạng thái của vật thể, còn sắc giác sẽ có tác dụng phân biệt màu sắc của vật thể. Ba bộ phận này kết hợp lại với nhau được gọi là chức năng thị giác.

Những loại hình thị giác mà trẻ cần phải tiến hành kiểm tra bao gồm: Kiểm tra thị lực, kiểm tra thị giác màu sắc, kiểm tra độ thích ứng sáng tối…

Những hạng mục cụ thể cần phải kiểm tra đó là: Kiểm tra thị lực, soi khe nứt, kiểm tra đáy mắt, kiểm tra khúc xạ của mắt, kiểm tra độ mẫn cảm, độ nhạy tương phản, kiểm tra thị giác màu sắc, kiểm tra sự thích nghi bóng tối, kiểm tra perimetry của mắt, kiểm tra nhãn áp, siêu âm mắt… sẽ mang lại những hỗ trợ cần thiết để việc chẩn đoán được chính xác hơn. 

Với những hạng mục cần kiểm tra ở trên đây, liệu có phải tất cả các trẻ đều phải tiến hành kiểm tra không? Câu trả lời là không.

Đầu tiên, bác sĩ sẽ tiến hành một số kiểm tra mang tính chất thông thường, chẳng hạn như kiểm tra ba hạng mục: Kiểm tra thị lực, soi khe nứt hoặc kiểm tra tật khúc xạ. Khi kiểm tra ba hạng mục này, bác sĩ sẽ có được tình hình khái quát về mắt của trẻ, phán đoán được mức độ mắt của trẻ ra sao, khúc xạ của mắt liệu có bình thường không…

kiểm tra thi lực ở trẻKiểm tra thị lực của trẻ tổng quát bằng máy

Nếu muốn tìm hiểu xem những chức năng khác của thị lực trẻ có bình thường hay không, bác sĩ sẽ tiến hành thêm ba hạng mục kiểm tra nữa như: Kiểm tra độ nhạy tương phản, thị giác màu sắc và độ thích ứng bóng tối.

Nếu như trẻ đã trải qua những cuộc kiểm tra, có sự can thiệp của bác sĩ mà thị lực vẫn không được cải thiện, thì lại phải tiếp tục làm những cuộc kiểm tra sâu hơn, như làm kiểm tra đáy mắt, kiểm tra nhãn áp, kiểm tra perimetry mắt, siêu âm mắt… để có thể đưa ra kết luận phán đoán trẻ có mắc chứng bệnh về mắt khác không. 

2. Trẻ 3 tuổi cần phải bắt đầu tiến hành kiểm tra thị lực

 Trong hầu hết những cuộc kiểm tra nhãn khoa, kiểm tra thị lực là công tác kiểm tra thường được sử dụng nhất, nó được xếp thứ nhất trong các hạng mục kiểm tra.

Thị lực được phân thành hai bộ phận: thị lực trung tâm và thị lực ngoại biên, nó được coi là tiêu chí để phân biệt mức độ mẫn cảm cao thấp của thị giác.

Chính vì thế mà kiểm tra thị lực là công tác kiểm tra quan trọng nhất. Thị lực trung tâm chỉ khả năng có thể nhìn thấy một cách rõ ràng và chính xác vật thể, thông thường chúng ta nói “kiểm tra thị lực” chính là nói đến việc kiểm tra thị lực trung tâm, nó là bước đầu tiên trong công tác kiểm tra nhãn khoa, cũng là bước kiểm tra đơn giản nhất, quan trọng nhất và cũng đáng chú ý nhất. Nó chính là tiêu chí chủ yếu để đánh giá mức độ thị lực của mỗi người như thế nào.

Kiểm tra thị lực trung tâm bao gồm hai loại: loại thứ nhất là dùng một bảng đo thị lực gồm những hàng chữ E và C, người được kiểm tra sẽ đứng cách xa 5 mét để kiểm tra; loại thứ hai là dùng một bảng chữ E đặt trên bàn để đo tầm nhìn gần.

Thị lực ngoại biên là chỉ tầm nhìn của người đó rộng hay hẹp, kiểm tra thị lực ngoại biên chủ yếu là kiểm tra tầm nhìn.

Kiểm tra thị lực cho béKiểm tra thị lực qua bé thông qua bảng chữ cái

Mọi người thông thường hay bỏ qua việc tiến hành kiểm tra thị lực cho những trẻ trước tuổi đến trường, khiến cho rất nhiều trẻ khi đi học, thậm chí rất muộn sau đó mới tiến hành kiểm tra thị lực lần đầu.

Chúng ta đều biết, khoảng thời gian từ 0 ~ 3 tuổi là khoảng thời gian thị giác của trẻ phát triển một cách quan trọng và mẫn cảm nhất, mà kiểm tra thị lực lại là tiêu chí trực quan nhất để có thể nhận biết được mắt có thể nhìn rõ những sự vật, hiện tượng ở thế giới bên ngoài của trẻ hay không.

Nếu tiến hành sớm công tác kiểm tra thị lực cho trẻ, thì bạn sẽ sớm phát hiện được những thiếu sót, yếu điểm hay bệnh lí về thị lực của trẻ và kịp thời có những chẩn đoán, phòng tránh hay chữa trị nhãn khoa kịp thời, và như vậy chắc chắn có thể cứu vãn được rất nhiều trẻ có thị lực không được tốt, đem lại lợi ích cả đời cho trẻ.

Các bậc phụ huynh không được bỏ qua việc kiểm tra thị lực của trẻ, phải nhanh chóng dạy trẻ nhận biết bảng kiểm tra thị lực, và khi trẻ được 3 ~ 4 tuổi thì có thể bắt đầu công tác kiểm tra. 

3. Kiểm tra thị lực cho trẻ sơ sinh như thế nào?

 Trên đây chúng tôi đã giới thiệu công tác kiểm tra thị lực với bảng chữ E, thích hợp với những trẻ trước và sau tuổi đến trường.

Đối với những trẻ dưới 3 tuổi, khi tiến hành kiểm tra sẽ có chút khó khăn. Các chuyên gia sẽ căn cứ vào đặc điểm thị   giác của trẻ để thiết kế cho trẻ một số phương pháp kiểm tra phù hợp hơn.

  • Kiểm tra thị lực cho trẻ dưới 6 tháng tuổi

Đối với trẻ trong vòng 1 tháng tuổi: Có thể chú ý đến ánh sáng. Đứng cách trẻ từ 20 ~ 30 cm, dùng một đèn pin dạng bút, tiến hành bật rồi tắt, bật rồi tắt, chiếu vào đồng tử của trẻ. Đồng tử của trẻ bình thường có thể tùy theo sự bật tắt đó của đèn pin mà giãn nở ra hoặc co lại, như vậy là có sự phản xạ với ánh sáng.

Đối với trẻ từ 1 ~ 3 tháng tuổi: Có thể chú tâm để ý, quan sát khuôn mặt của mọi người xung quanh, chủ động đưa mắt nhìn những đồ vật ở xung quanh, khi nằm thẳng có thể chăm chú nhìn và chú ý theo sự chuyển động của quả bóng bay treo trước mặt, có    thể nhìn những ngón tay huơ huơ gần mặt.

Đối với trẻ từ 3 ~ 6 tháng tuổi: Có thể chủ động đưa tay với lấy những đồ vật mà mình yêu thích, có thể nhìn theo sự chuyển động của quả bóng từ khoảng cách 30 ~ 60cm; khi ngón tay của người lớn đưa đến gần mắt của trẻ, trẻ sẽ tự nhiên có phản xạ chớp mắt để lảng tránh.

Những kiểm tra ở trên không thể định lượng được một cách chính xác, mà chỉ cho ta được những phán đoán sơ bộ mà thôi.

Kiểm tra thị lực cho trẻ sơ sinhSử dụng đèn pin để kiểm tra thị giác của trẻ 3~6 tháng tuổi

  • Kiểm tra thị lực đối với trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi

Phương pháp làm chuyển động nhãn cầu: Dùng trống để kiểm tra thị lực cho bé. Giơ trống trước mặt trẻ, đưa qua đưa lại, hướng dẫn và thu hút nhãn cầu của trẻ chuyển động, từ đó có thể đoán được  thị lực của trẻ.

Phương pháp ước tính tiểu cầu: Phương pháp này được áp dụng trong bối cảnh là trời tối, dùng những quả bóng có đường kính khác nhau để trẻ nhận biết, và từ đó ước tính tình trạng thị lực của trẻ:

Ở khoảng cách 3m có thể nhận biết được quả bóng có đường kính 1.9cm thì thị lực của bé tương đương với hàng chữ E trên bảng đo thị lực là 1/10;

nếu nhận biết được quả bóng có đường kính 1.3cm thì thị lực là 1,6/10; nếu nhận biết được quả bóng có đường kính 0.95cm thì thị lực là 2,5/10; nếu nhận biết được quả bóng có đường kính là 0.62cm thì thị lực là 3/10; nếu phân nhận biết được quả bóng có đường kính 0.47cm thì thị lực sẽ là 5/10, có thể nhận biết được quả bóng có đường kính 0.32 cm thì thị  lực sẽ là 6/10. 3.

  • Kiểm tra thị lực của trẻ từ 2 ~ 2.5 tuổi

Phương pháp ước tính tùy thuộc vào sự vật: Ở cách trẻ 30 ~ 35 cm, bày những hạt cườm với những kích cỡ khác nhau. Nếu như trẻ có thể tìm thấy và cầm lên được hạt trân cườm nhỏ với đường kính 1mm, thì thị lực của trẻ sẽ là 3/10 trở lên.

– Phương pháp kiểm tra thị lực bằng những tranh vẽ thiếu nhi: Sử dụng các bức tranh, hình vẽ về chim muông, hoa cỏ, động vật hoặc những sự vật thu hút ánh nhìn của trẻ để thay thế cho những hàng chữ E trên bảng kiểm tra thị lực.

Cách kiểm tra thị lực cho trẻKhi trẻ nhỏ có thể kiểm tra thị lực bằng hình ảnh sinh động

  • Kiểm tra thị lực đối với trẻ từ 2.5 ~ 3 tuổi

Có thể dùng bảng kiểm tra thị lực bằng những hình vẽ trẻ em để kiểm tra thị lực của trẻ. Tuy nhiên, cha mẹ nên cố gắng dạy cho trẻ từ 3 tuổi trở lên cách nhận biết bảng chữ E, cố gắng cho bé tiếp cận dần với bảng kiểm tra thị lực quốc tế. 

Bài viết đã đưa ra một số cách kiểm tra thị lực ở trẻ. Hi vọng những thông tin trên sẽ hữu ích đối với phụ huynh trong việc chăm sóc mắt của bé tốt hơn!

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on linkedin
Scroll to Top